1
Bạn cần hỗ trợ?
Trang chủ / Hỏi đáp pháp luật / Nghị định 174/2026 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, an ninh mạng

Nghị định 174/2026 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, an ninh mạng

Các hành vi lợi dụng không gian mạng để phát tán tin giả, thông tin sai sự thật, nội dung độc hại, xúc phạm danh dự cá nhân sẽ bị xử phạt theo Nghị định 174/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) nhằm tăng cường quản lý hoạt động trên môi trường mạng và siết chặt chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm trên mạng xã hội. Nghị Định quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây: a) Bưu chính; b) Viễn thông; c) Tần số vô tuyến điện; d) Giao dịch điện tử; đ) Công nghệ thông tin và mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực an ninh mạng).


Mức phạt tiền thời hiệu xử phạt quy định tại điều 4 nghị định 

Điều 4. Quy định về mức phạt tiền, thẩm quyền phạt tiền, thời hiệu xử phạt, vi phạm hành chính nhiều lần và thời hạn sử dụng kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ

 

1. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực bưu chính và giao dịch điện tử đối với cá nhân là 40.000.000 đồng.

 

2. Mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và mật mã dân sự (thuộc lĩnh vực an ninh mạng) đối với cá nhân là 100.000.000 đồng.

3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VI tại Nghị định này

  • Nội dung tham chiếu. Click vào để xem chi tiết.

 được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 101 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

4. Thẩm quyền phạt tiền quy định tại Chương VII Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền đối với một hành vi vi phạm của tổ chức; đối với hành vi vi phạm của cá nhân, thẩm quyền phạt tiền bằng 1/2 thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức.

5. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính:

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này là 01 năm trừ các hành vi vi phạm quy định tại các điểm a và c khoản 1 Điều 11

  • Nội dung tham chiếu. Click vào để xem chi tiết.

; điểm b khoản 1 Điều 47; các điểm a và b khoản 2, khoản 3 Điều 53; các khoản 2 và 3 Điều 72; khoản 1 Điều 75

  • Nội dung tham chiếu. Click vào để xem chi tiết.

; khoản 4, điểm a khoản 5, khoản 6 và khoản 7 Điều 103 Nghị định này có thời hiệu xử phạt là 02 năm.

6. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, trừ hành vi vi phạm quy định tại các Điều 9Điều 10; các khoản 1 và 2 Điều 11; điểm c khoản 4 và điểm c khoản 5 Điều 13; các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 15; điểm c và d khoản 2 Điều 53 Nghị định này thì bị xử phạt một lần và áp dụng tình tiết tăng nặng.

Về chứng cứ xử phạt trên môi trường điện tử

Điều 6. Xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

1. Chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm trên môi trường điện tử

a) Chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm hành chính trên môi trường điện tử bao gồm các hình thức thể hiện của thông điệp dữ liệu, thông tin, hình ảnh, âm thanh, tài liệu số và các dạng dữ liệu khác được thu thập trực tiếp hoặc trực tuyến trên thiết bị điện tử, hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân vi phạm hoặc thu thập trên thiết bị điện tử, hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân khác.

b) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá độ tin cậy, tính toàn vẹn của chứng cứ điện tử; có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp dữ liệu, thông tin, hình ảnh, âm thanh, tài liệu số và các dạng dữ liệu khác để chứng minh hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

c) Chứng cứ điện tử được thu thập theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này có giá trị pháp lý, là căn cứ để xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này.

2. Lập biên bản vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

a) Biên bản vi phạm hành chính trên môi trường điện tử là biên bản được lập, ký số, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương thức điện tử gồm: cổng dịch vụ công trực tuyến, hệ thống thông tin, ứng dụng số sử dụng cho hoạt động xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

b) Việc lập biên bản vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm xác thực được danh tính của người lập biên bản, xác thực được danh tính người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến (nếu có), người phiên dịch (nếu có). Thông tin, dữ liệu trong biên bản không bị thay đổi sau khi ký số bởi chữ ký số có hiệu lực pháp luật của người lập biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến (nếu có), người phiên dịch (nếu có). Đảm bảo tính toàn vẹn, an toàn, bảo mật dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và an ninh mạng.

c) Biên bản vi phạm hành chính được ký số bởi người có thẩm quyền lập biên bản và người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của tổ chức vi phạm.

d) Biên bản vi phạm hành chính lập trên môi trường điện tử có giá trị pháp lý như biên bản được lập bằng văn bản giấy, là căn cứ để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

3. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử

a) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử là quyết định được lập, ký số, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương thức điện tử như: cổng dịch vụ công trực tuyến, hệ thống thông tin, ứng dụng số sử dụng cho hoạt động xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

b) Việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên môi trường điện tử phải bảo đảm được ký số bởi chữ ký đang có giá trị pháp lý bởi người có thẩm quyền xử phạt; toàn bộ nội dung, dữ liệu của quyết định được lưu trữ an toàn, bảo mật, không bị chỉnh sửa, thay đổi sau khi ban hành; trường hợp người vi phạm, tổ chức vi phạm không có điều kiện tiếp cận hệ thống điện tử, cơ quan có thẩm quyền xử phạt phải bảo đảm việc thông báo quyết định xử phạt bằng tin nhắn, thư điện tử, đồng thời lưu trữ bản điện tử của quyết định trong hệ thống thông tin phát hành quyết định xử phạt.

c) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính được ban hành trên môi trường điện tử có giá trị pháp lý như quyết định được ban hành bằng văn bản giấy, là căn cứ để tổ chức thi hành quyết định xử phạt, thực hiện thu, nộp tiền phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.

4. Điều kiện thực hiện xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 68/2025/NĐ-CP ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ và Nghị định số 120/2021/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Theo Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP, cá nhân hoặc tổ chức lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân sẽ bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Đây được xem là một trong những điểm mới nổi bật của nghị định khi mức xử phạt đã tăng đáng kể so với quy định cũ tại Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, vốn chỉ quy định mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tương tự. Việc tăng mạnh mức xử phạt cho thấy xu hướng siết chặt quản lý thông tin trên mạng xã hội và xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng không gian mạng để gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.

Không chỉ xử lý hành vi đăng tải thông tin sai sự thật, Điều 95 còn mở rộng phạm vi các hành vi vi phạm bị xử phạt trên mạng xã hội. Theo đó, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy tệ nạn xã hội, mại dâm, mua bán người; đăng tải nội dung dâm ô, đồi trụy; phá hoại thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội hoặc gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự cũng sẽ bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Quy định này nhằm tăng cường kiểm soát các nội dung phản cảm, độc hại và không phù hợp với chuẩn mực văn hóa trên môi trường mạng.

Bên cạnh đó, Nghị định 174/2026/NĐ-CP còn quy định xử phạt đối với hành vi cung cấp hoặc chia sẻ các nội dung mô tả tỉ mỉ hành động chém giết, tai nạn, nội dung kinh dị hoặc rùng rợn trên mạng xã hội. Đây là nhóm nội dung có nguy cơ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý cộng đồng, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên. Việc bổ sung quy định này cho thấy cơ quan quản lý đang chú trọng hơn đến việc xây dựng môi trường mạng an toàn và lành mạnh.

Một điểm mới đáng chú ý khác là nghị định bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật hoặc xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành, tịch thu. Các hành vi quảng cáo, tuyên truyền hoặc chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm cũng thuộc nhóm bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng theo Điều 95.

Ngoài ra, nghị định còn quy định xử phạt đối với hành vi cung cấp hoặc chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia. Đây là nội dung thể hiện rõ việc tăng cường quản lý các thông tin liên quan đến chủ quyền lãnh thổ trên môi trường mạng. Đồng thời, các hành vi chia sẻ đường dẫn đến thông tin có nội dung bị cấm trên mạng cũng bị xử phạt theo quy định mới.

Đáng chú ý, Điều 95 còn bổ sung quy định xử phạt đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra hoặc phỏng vấn báo chí trái quy định. Đồng thời, các cơ quan báo chí nếu thiết lập tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung trên mạng xã hội nhưng không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định cũng sẽ bị xử phạt.

Đối với chủ tài khoản, chủ trang cộng đồng, người quản trị nhóm cộng đồng hoặc chủ kênh nội dung trên mạng xã hội, nghị định quy định trách nhiệm phải thực hiện ngăn chặn và gỡ bỏ các thông tin vi phạm pháp luật, thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc thông tin ảnh hưởng đến trẻ em khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Nếu không thực hiện, các chủ thể này sẽ bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

Ngoài nhóm hành vi nêu trên, khoản 2 Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP còn quy định mức xử phạt nặng hơn, từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng, đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng trên mạng xã hội. Trong đó bao gồm hành vi cung cấp hoặc chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới hoặc phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư cá nhân hoặc các bí mật khác cũng sẽ bị xử phạt nghiêm theo quy định mới. Ngoài ra, người sử dụng mạng xã hội để cung cấp hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ cũng có thể bị xử phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Không chỉ dừng lại ở hình thức phạt tiền, khoản 3 Điều 95 còn bổ sung nhiều biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm trên mạng xã hội. Theo đó, cá nhân hoặc tổ chức vi phạm sẽ bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, thông tin gây nhầm lẫn hoặc các nội dung vi phạm pháp luật đã đăng tải trên môi trường mạng. Đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 95, cơ quan chức năng còn có thể áp dụng biện pháp buộc khóa tài khoản, khóa trang cộng đồng, khóa nhóm cộng đồng hoặc khóa kênh nội dung vi phạm.

Có thể thấy, Điều 95 Nghị định 174/2026/NĐ-CP đã mở rộng đáng kể phạm vi xử lý các hành vi vi phạm trên mạng xã hội, đồng thời tăng mạnh mức xử phạt và bổ sung thêm nhiều biện pháp quản lý nghiêm khắc hơn so với trước đây. Những quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần hạn chế tình trạng tin giả, nội dung độc hại và các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, đồng thời nâng cao ý thức của người dùng trong việc sử dụng mạng xã hội an toàn, văn minh và đúng quy định pháp luật.

Công ty luật TNHH Đức An

VĂN PHÒNG GIAO DỊCH: Số 64b, phố Nguyễn Viết Xuân, phường Phương Liệt, Hà Nội

Giám đốc Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Liên hệ luật sư 090 220 1233 

Web: www.luatducan.vn

Youtube: Luật sư Phạm Thị Bích Hảo

Email: luatsubichhao@gmail.com